Chợ Ở Huế, cô có một căn bếp nhỏ. Cô mới chuyển đến đây được vài tuần. Tối nay, người hàng xóm đến ăn. Chợ sắp đóng cửa. Cô đi nhanh đến một quầy nhỏ. Trên bàn có rau, bánh, chai nước và trứng. Cô biết rất ít từ. Cô biết “xin”, “cảm ơn”, “cái này”, “cái kia”, “bao nhiêu”, “một”, “hai”, “có” và “không”. Người bán hàng đứng sau bàn. Anh nhìn cô và nói, “Chị mua gì?” Cô chỉ vào khay trứng. Cô nói, “Xin.” Anh lấy một cái bánh mì. Anh đặt bánh mì vào túi của cô. Cô nhìn cái bánh. Cô nói, “Không. Cái này.” Anh cầm chai nước. Anh đặt chai nước cạnh túi. Cô nói, “Không, không. Cái này.” Anh nhìn tay cô. Anh nhìn khay trứng. Rồi anh cầm một bó rau lớn. Anh đưa bó rau cho cô. Cô mở to mắt. Cô nói, “Không!” Anh cười. Cô cũng cười một chút. Anh đặt bó rau xuống. Anh hỏi, “Cái này?” Cô chỉ vào khay trứng. Cô nói, “Có. Cái này. Bao nhiêu?” Anh cầm một quả trứng lên. Anh đặt quả trứng trên bàn. Anh nói chậm, “Trứng.” Cô nhìn quả trứng. Cô nói, “Chứng.” Anh lắc đầu rất nhẹ. Anh nói, “Trứng.” Cô đặt ngón tay lên quả trứng. Cô nói, “Trứng.” Anh nói, “Đúng rồi. Trứng.” Cô nói, “Bao nhiêu?” Anh chỉ vào tờ tiền nhỏ trên bàn. Anh nói, “Một quả, hai nghìn.” Cô lấy tiền trong túi áo. Cô đặt hai nghìn lên bàn. Cô hỏi, “Một?” Anh nói, “Một.” Cô nhìn khay trứng. Cô giơ một ngón tay. Cô nói, “Một.” Anh bỏ một quả trứng vào túi. Rồi anh bỏ thêm một quả nữa. Cô nhìn anh. Cô nói, “Hai?” Anh nói, “Một tiền, hai quả.” Cô cầm túi. Cô nói, “Cảm ơn.” Anh nói, “Không có gì.” Cô nhìn lại khay trứng. Cô nói nhỏ, “Trứng.” Anh nghe thấy. Anh nói, “Trứng.” Cô cầm tiền thừa. Cô cầm túi bằng tay trái. Cô đi ra khỏi chợ. Đường về có đèn vàng. Cô đi chậm hơn. Túi nhỏ đung đưa bên chân cô. Hai quả trứng chạm vào nhau trong túi. Cô nói một mình, “Trứng.” Cô đi qua quán cơm. Cô đi qua cửa hàng nhỏ. Cô giữ túi sát người. Cô đến căn nhà có cầu thang hẹp. Cô mở cửa. Cô đặt tiền lên bàn. Cô đặt túi bên cạnh bếp. Cô nói, “Trứng.” Người hàng xóm đứng ở đầu cầu thang.